Thiếu máu là một bệnh lý nguy hiểm, có thể gây suy kiệt và dẫn đến tử vong. Người bệnh cần nắm rõ các triệu chứng để kịp thời thăm khám, điều trị. Ước tính 1/4 dân số toàn cầu bị mắc bệnh này, với số ca chiếm nhiều hơn ở phụ nữ mang thai và sau sinh, phụ nữ đang có kinh nguyệt, trẻ em gái và trẻ dưới 5 tuổi. Vậy làm sao biết mình bị mắc bệnh? Nguyên nhân và biểu hiện có giống nhau ở từng trường hợp? Cách điều trị như thế nào?
Thiếu máu là gì?
Thiếu máu (Anemia) là tình trạng số lượng hồng cầu hoặc nồng độ huyết sắc tố (Hemoglobin) trong hồng cầu thấp (dưới 120 g/L).
Năm 2021, 1,92 tỷ người trên toàn cầu mắc phải căn bệnh này (
). Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính có 40% trẻ em từ 6–59 tháng tuổi, 37% phụ nữ mang thai và 30% phụ nữ từ 15–49 tuổi trên toàn cầu mắc bệnh (
). Có thể thấy, đây là một trong những vấn đề sức khỏe gây ảnh hưởng đến phần lớn người dân trên toàn thế giới, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
Số lượng hồng cầu hoặc nồng độ huyết sắc tố trong trong hồng cầu thấp khi mắc bệnh.Các loại thiếu máu
Bệnh được chia thành nhiều nhóm khác nhau. Trong đó, các nhóm bệnh chính bao gồm:
1. Suy tuỷ
là một tình trạng bệnh lý xảy ra khi tủy xương không thể tạo ra đủ tế bào máu mới để đáp ứng nhu cầu hoạt động bình thường của cơ thể. Nguyên nhân phổ biến nhất gây suy tủy là do hệ thống miễn dịch của bạn tấn công các tế bào gốc tạo
trong tủy xương.
Người bệnh bị suy tủy luôn cảm thấy mệt mỏi chóng mặt, xanh xao do tuỷ xương không sản xuất hồng cầu; dễ bị nhiễm trùng do giảm số lượng bạch cầu và chảy máu không kiểm soát được do giảm số lượng tiểu cầu. Suy tuỷ có thể diễn tiến nhanh hoặc chậm tùy theo từng trường hợp bệnh.
Suy tuỷ là một bệnh lý nguy hiểm, có thể diễn tiến nặng và đe dọa tính mạng với tỷ lệ tử vong rất cao (khoảng 70% trong vòng 1 năm) nếu không được điều trị kịp thời. Tỷ lệ sống sót chung sau 5 năm là khoảng 80% đối với người bệnh dưới 20 tuổi. Tính đến thời điểm này, không có cách nào để ngăn ngừa suy tuỷ.
2. Thiếu máu thiếu sắt
là loại phổ biến nhất, xảy ra khi người bệnh không có đủ lượng chất sắt trong cơ thể.
Chức năng của hồng cầu là vận chuyển oxy từ phổi đến các tế bào và mô của cơ thể. Sau đó, hồng cầu mang Carbon Dioxide, chất thải quay trở lại phổi để thải ra ngoài. Hemoglobin (huyết sắc tố) là một loại Protein giàu chất sắt trong hồng cầu có chức năng “vận chuyển” các phân tử oxy.
Nếu cơ thể không có đủ chất sắt thì tủy xương không thể tạo ra đủ lượng huyết sắc tố. Đổi lại, nếu cơ thể có lượng huyết sắc tố thấp, tủy xương sẽ tạo ra ít tế bào hồng cầu hơn và những tế bào được tạo ra có xu hướng nhỏ hơn và nhợt nhạt hơn so với hồng cầu bình thường. Các tế bào hồng cầu không thể cung cấp đủ oxy để phục vụ nhu cầu của cơ thể sẽ dẫn đến thiếu máu.
Những người mắc bệnh nhẹ hoặc trung bình có thể không có bất kỳ triệu chứng nào. Trường hợp nghiêm trọng hơn có thể gây ra các triệu chứng mệt mỏi, khó thở, choáng váng, nặng ngực, khó thở, cảm giác hồi hộp, tim đập nhanh, tay chân lạnh, da nhợt nhạt,…
Cơ thể thiếu sắt gây choáng váng, mệt mỏi.3. Bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm
Đây là một dạng bệnh ảnh hưởng đến hình dạng của các tế bào hồng cầu, làm hạn chế khả năng tế bào hồng cầu mang oxy đến các mô và cơ quan trong cơ thể.
Các tế bào hồng cầu thường có hình đĩa lõm 2 mặt. Cấu trúc này khiến hồng cầu rất linh hoạt và có thể di chuyển qua các mạch máu một cách dễ dàng. Tuy nhiên, khi mắc bệnh, các tế bào hồng cầu có hình lưỡi liềm giống như chữ C. Những tế bào này kết dính lại với nhau, tạo thành cấu trúc cứng khiến hồng cầu không thể dễ dàng di chuyển qua các mạch máu, có thể gây tắc nghẽn mạch máu.
Hồng cầu bình thường có thể sống tới 120 ngày. Tuy nhiên, tế bào hồng cầu hình liềm chỉ sống được khoảng 10 đến 20 ngày. Các tế bào hình liềm có thể bị lá lách phá hủy do hình dạng và độ cứng của chúng. Ngược lại, tế bào hồng cầu hình liềm cũng có thể làm tổn thương lá lách, làm tăng nguy cơ viêm nhiễm.
4. Bệnh Thalassemia
là do đột biến Gene tổng hợp Globin, một thành phần vô cùng quan trọng tạo nên huyết sắc tố – chất trong tế bào hồng cầu mang oxy đi khắp cơ thể. Các đột biến liên quan đến bệnh Thalassemia có thể được truyền từ bố mẹ sang con cái.
Các phân tử huyết sắc tố được tạo thành từ các chuỗi Alpha và Beta. Ở người mắc bệnh Thalassemia, việc sản xuất chuỗi Alpha hoặc Beta bị giảm, gây ra các bệnh lý
hoặc
. Mức độ nghiêm trọng của bệnh phụ thuộc vào số lượng đột biến Gen di truyền từ bố mẹ sang con cái. Càng nhiều Gen đột biến, bệnh Thalassemia càng nghiêm trọng.
Trong hầu hết các trường hợp, không thể ngăn ngừa bệnh Thalassemia. Nếu bạn mắc bệnh Thalassemia hoặc nếu bạn mang Gen bệnh Thalassemia, nên thăm khám và tham vấn với các bác sĩ trước khi quyết định tiến tới hôn nhân (tham vấn tiền hôn nhân) và trước khi sinh con (tham vấn tiền sản).
Thalassemia là một dạng bệnh do di truyền.5. Thiếu máu do thiếu Vitamin B12
Đây là tình trạng thiếu các tế bào hồng cầu khỏe mạnh do lượng nguyên liệu Vitamin B12 thấp hơn bình thường.
Tình trạng này thường phát triển chậm trong vài tháng đến nhiều năm. Các dấu hiệu ban đầu có thể khó phát hiện. Chỉ khi tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn, người bệnh có thể có các triệu chứng như da nhợt nhạt hoặc tái xanh, hồi hộp, tim đập nhanh, sụt cân, tê ngứa tay chân, yếu cơ,…
6. Thiếu máu tán huyết tự miễn
Đây là bệnh lý được đặc trưng bởi tình trạng hồng cầu bị phá huỷ bởi các kháng thể tự miễn. Sự phá hủy hồng cầu xảy ra với tốc độ nhanh hơn khả năng sản xuất tế bào mới, dẫn đến không đủ số lượng hồng cầu trong máu dẫn đến mắc bệnh.
Nguyên nhân gây bệnh chưa được xác định chính xác. Nhiều giả thuyết được đặt ra cho rằng bệnh lý này là một dạng rối loạn nguyên phát hoặc thứ phát sau một căn bệnh tiềm ẩn, chẳng hạn như
thiếu máu do bệnh viêm khớp dạng thấp
, Virus Epstein-Barr, ung thư hạch, bệnh Lupus, rối loạn suy giảm miễn dịch hoặc viêm loét đại tràng,…
7. Các dạng khác
Ngoài những dạng kể trên, còn có một số loại khác ít phổ biến hơn, bao gồm:
Thiếu Axit Folic: Tương tự như thiếu Vitamin B12, đây là dạng xảy ra do chế độ dinh dưỡng kém hoặc cơ thể kém hấp thu Axit Folic. Tuy nhiên, tình trạng này không quá phổ biến.
Loạn sinh tủy: Xảy ra khi quá trình tạo hồng cầu trong tủy xương bị rối loạn, kết quả là tạo ra các tế bào hồng cầu lớn bất thường.
Thiếu máu nguyên bào sắt: Người bệnh không có đủ hồng cầu và có quá nhiều chất sắt trong cơ thể.
: Là một bệnh di truyền gen lặn với các triệu chứng bất thường sắc tố da, người thấp, dị dạng ngón cái và suy thận. Tình trạng này bắt đầu xuất hiện ở trẻ lớn dần, có thể dẫn đến suy tủy xương.
Triệu chứng thiếu máu có thể nhận biết
Với các trường hợp nhẹ hoặc bệnh diễn tiến chậm, bạn có thể không có triệu chứng hoặc triệu chứng bệnh diễn tiến thoáng qua. Với các trường hợp ở mức độ trung bình hơn, các dấu hiệu có thể xảy ra bao gồm:
Cảm thấy yếu, mệt mỏi thường xuyên hơn bình thường hoặc khi tập thể dục, khi gắng sức.
Nhức đầu, hoa mắt.
Khó tập trung hoặc suy nghĩ.
Dễ cáu gắt.
Ăn mất ngon, chán ăn.
Có cảm giác tê, ngứa ran, lạnh ở tay và chân.
Thường xuyên bị chóng mặt.
Nhịp tim đập nhanh bất thường.
Cảm thấy mệt mỏi, chóng mặt là triệu chứng phổ biến khi mắc bệnh.Nếu tình trạng trở nên trầm trọng hơn, các dấu hiệu có thể bao gồm:
Da xanh, niêm mạc mắt nhạt.
Móng tay sọc, dễ gãy.
Thèm ăn đá hoặc những thứ không phải thực phẩm khác (hội chứng pica).
Hoa mắt, choáng váng chóng mặt khi đứng dậy, cảm giác lảo đảo mất thăng bằng, đứng không vững.
Khó thở khi hoạt động nhẹ hoặc thậm chí khi nghỉ ngơi.
Lưỡi đau hoặc viêm.
Loét miệng.
Chậm tăng cân và tăng chiều cao (đối với trẻ em).
Chảy máu kinh nguyệt tăng đối với phụ nữ.
Giảm hoặc mất ham muốn tình dục.
Tiểu đỏ, tiểu xá xị (với trường hợp hồng cầu hình liềm).
Rối loạn tri giác, hôn mê.
Tử vong.
Nguyên nhân thiếu máu
1. Do thiếu sắt
Nguyên nhân gây bệnh bao gồm:
Mất máu: Máu chứa sắt trong các tế bào hồng cầu. Vì vậy, nếu bạn mất máu, bạn sẽ mất một ít chất sắt. Có nhiều nguyên nhân gây mất máu như phụ nữ bị mất máu do kinh nguyệt, bệnh nhân bị loét dạ dày tá tràng, Polyp đại tràng, ung thư đại trực tràng, nhiễm giun sán,…
Thiếu chất sắt trong chế độ ăn uống: Cơ thể nhận được chất sắt từ thực phẩm chúng ta ăn hằng ngày. Vì vậy, nếu bạn ít dùng các loại thực phẩm giúp bổ sung chất sắt, về lâu dài cơ thể sẽ thiếu sắt và dẫn đến mắc bệnh.
Không có khả năng hấp thụ sắt: Sắt từ thức ăn được hấp thụ vào máu ở ruột non. Rối loạn đường ruột, chẳng hạn như bệnh celiac, ảnh hưởng đến khả năng ruột hấp thụ chất dinh dưỡng từ thức ăn tiêu hóa. Người từng phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ ruột non có nguy cơ mắc bệnh cao hơn do cơ thể không thể hấp thu chất sắt cần thiết.
Thai kỳ: Phụ nữ mang thai nếu không bổ sung sắt sẽ bị thiếu máu bởi lượng sắt dự trữ của cơ thể cần phục vụ lượng máu tăng lên trong thai kỳ. Ngoài ra, lượng chất sắt dự trữ này cũng như là nguồn cung cấp huyết sắc tố cho thai nhi đang phát triển nên phụ nữ mang thai cần nhiều chất sắt hơn thông thường.
Phụ nữ mang thai có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.2. Do thiếu Vitamin, Axit Folic
Tình trạng này có thể xảy ra khi người bệnh không ăn đủ thực phẩm có chứa Vitamin B12, Axit Folic. Nếu cơ thể người bệnh gặp khó khăn trong việc hấp thụ hoặc xử lý các Vitamin này, người bệnh cũng có thể bị thiếu máu.
3. Do viêm nhiễm
Khi bạn bị nhiễm trùng hoặc mắc các bệnh gây phản ứng viêm, hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ gây ra những thay đổi trong cách cơ thể hoạt động và có thể dẫn đến. Lúc này, cơ thể bạn có thể không lưu trữ và sử dụng sắt bình thường.
Không chỉ vậy, khi bạn mắc các bệnh viêm hay nhiễm trùng, thận của bạn có thể sản xuất ít Erythropoietin (EPO), một loại Hormone báo hiệu cho tủy xương – mô xốp bên trong hầu hết các xương của bạn – để tạo ra hồng cầu. Viêm nhiễm cũng khiến cho tủy xương không phản ứng bình thường với EPO, tạo ra ít tế bào hồng cầu hơn mức cần thiết.
Viêm nhiễm cũng làm cho các tế bào hồng cầu sống trong thời gian ngắn hơn bình thường. Cơ thể không kịp sản xuất tế bào hồng cầu mới nên dẫn đến mắc bệnh.
4. Thiếu máu không tái tạo
Có nhiều cơ chế gây ra tình trạng này, nhưng cơ chế chính là giảm sản xuất hồng cầu do ức chế tạo hồng cầu, giảm lượng sắt sẵn có và giảm tuổi thọ của hồng cầu (tan máu ngoài mạch máu).
5. Thiếu máu tán huyết
Tình trạng này có thể do các tình trạng di truyền ảnh hưởng đến hồng cầu. Bên cạnh đó, bệnh cũng có thể do một số bệnh nhiễm trùng hoặc do ai đó được truyền máu từ người hiến có nhóm máu không phù hợp.
6. Bệnh hồng cầu hình liềm
Những người bị mắc bệnh thừa hưởng hai Gen Hemoglobin S bị lỗi từ bố và/hoặc mẹ của mình. Nguyên nhân bệnh hồng cầu hình liềm cũng có thể là do trẻ thừa hưởng một Gen Hemoglobin S và một Gen Hemoglobin bị lỗi khác, chẳng hạn như Beta (β) Thalassemia, Hemoglobin C, Hemoglobin D hoặc Hemoglobin E từ bố mẹ.
Các yếu tố tăng nguy cơ thiếu máu
Một số yếu tố về lối sống, cách chăm sóc sức khỏe chưa phù hợp, tuổi tác,… cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh:
Thường xuyên hiến máu: Mặc dù hiến máu là điều tuyệt vời và thường được khuyến khích nhưng việc hiến máu quá nhiều lần trong thời gian ngắn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của chính bạn. Do đó cần hiến máu theo tần suất được phép để duy trì sự an toàn của chính bạn khi thực hiện nghĩa cử cao đẹp này.
Tuổi tác: Trẻ nhỏ cần nhiều chất sắt để tăng trưởng và phát triển. Nếu không uống sữa và tuân theo chế độ ăn uống dinh dưỡng hợp lý, trẻ sẽ dễ có nguy cơ mắc bệnh hơn. Ngoài ra, thanh thiếu niên cũng có nguy cơ cao hơn một chút do có xu hướng ngủ ít hơn. Việc thiếu ngủ về lâu dài có thể gây căng thẳng hơn cho cơ thể và có thể gây bệnh.
Kinh nguyệt: Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nam giới do việc chảy máu trong chu kỳ kinh nguyệt làm mất các tế bào hồng cầu.
Mang thai và sinh con: Do nhu cầu cơ thể cần nhiều máu hơn để cung cấp cho thai nhi trong khi mang thai cũng như rủi ro mất máu quá nhiều trong khi vượt cạn, phụ nữ mang thai và sinh con có nguy cơ cao hơn.
Suy dinh dưỡng: Bất kỳ ai thường xuyên thiếu các chất dinh dưỡng và khoáng chất thiết yếu trong cơ thể đều có thể bị mắc bệnh. Điều này đặc biệt đúng đối với những người bị suy dinh dưỡng.
Tiền sử gia đình: Việc có một thành viên trong gia đình bị bệnh sẽ khiến bạn có nguy cơ mắc phải cao hơn so với những người không có tiền sử gia đình mắc bệnh.
Nếu tình trạng nặng, nghiêm trọng có thể gây tử vong.Các cách phân độ thiếu máu
1. Phân độ dựa trên mức độ
Theo Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ, các mức độ của bệnh được tính như sau:
Mức độ nhẹ: Nồng độ huyết sắc tố từ 10,0 g/dL đến 12,0 g/dL.
Mức độ trung bình: Nồng độ huyết sắc tố từ 8,0 đến 10,0 g/dL.
Mức độ nặng: Nồng độ huyết sắc tố từ 6,5 đến 7,9 g/dL.
Mức độ đe dọa tính mạng: Huyết sắc tố dưới 6,5 g/dL.
Việc phân loại này có thể có sự khác nhau một chút tùy theo từng Tổ chức Y tế. Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương
theo nồng độ huyết sắc tố như sau:
Nhẹ: Huyết sắc tố từ 90 đến 120 g/L (tương đương 9,0 – 12,0 g/dL).
Trung bình: Huyết sắc tố từ 60 đến dưới 90 g/L (tương đương 6,0 – 9,0 g/dL).
Nặng: Huyết sắc tố từ 30 đến dưới 60 g/L (tương đương 3,0 – 6,0 g/dL).
Rất nặng, nguy hiểm, nguy cơ tử vong rất cao: Huyết sắc tố dưới 30 g/L (tương đương dưới 3,0 g/dL).
2. Phân độ dựa trên diễn tiến
Xét trên diễn tiến, bệnh được chia làm 2 cấp độ là cấp tính và mạn tính. Trong đó:
Thiếu máu cấp tính: là tình trạng số lượng hồng cầu giảm đột ngột và nhanh chóng, chủ yếu do tan máu hoặc xuất huyết cấp tính.
: là tình trạng kéo dài từ vài tháng trở lên và được đặc trưng bởi sự suy giảm dần dần số lượng hồng cầu theo thời gian.
3. Phân độ dựa trên nguyên nhân
Dựa trên nguyên nhân gây bệnh, có thể phân độ thành 3 nhóm chính:
Do mất máu.
Do tan máu (tốc độ tế bào hồng cầu mất đi nhanh hơn so với tốc độ tế bào hồng cầu sản sinh).
Do quá trình tạo máu bị rối loạn, suy giảm.
4. Phân độ dựa trên đặc điểm dòng hồng cầu
Với cách phân độ này, cần dựa trên 2 chỉ số huyết học là MCV và MCH:
Phân độ theo chỉ số MCV: Đây là cách phân độ dựa trên đặc điểm hình thái hồng cầu. Lúc này, có 3 phân độ chính là hồng cầu nhỏ, hồng cầu bình thường hoặc hồng cầu to.
Phân độ theo chỉ số MCH: Với cách phân độ này, có 2 nhóm là nhược sắc và ưu sắc.
Cách chẩn đoán bệnh thiếu máu
Trước tiên bác sĩ sẽ đánh giá các dấu hiệu của người bệnh, kiểm tra các chỉ số lâm sàng và thăm hỏi về tiền sử bệnh của người bệnh và gia đình. Sau đó, bác sĩ sẽ chỉ định người bệnh thực hiện một số biện pháp chẩn đoán để đưa ra kết luận chính xác nhất, bao gồm:
Xét nghiệm máu: Xét nghiệm công thức máu toàn bộ (CBC) là xét nghiệm máu phổ biến nhất để chẩn đoán bệnh lý này. CBC được sử dụng để đếm số lượng tế bào máu trong một mẫu máu. Xét nghiệm sẽ đo lượng hồng cầu trong máu, được gọi là hematocrit và mức độ huyết sắc tố trong máu. Giá trị huyết sắc tố điển hình ở người trưởng thành thường là 14 đến 18 gam/dl đối với nam và 12 đến 16 gam/dl đối với nữ. Giá trị hematocrit điển hình ở người trưởng thành khác nhau nhưng nhìn chung tỷ lệ này nằm trong khoảng từ 40% đến 52% đối với nam và 35% đến 47% đối với nữ. Nếu thấp hơn, người bệnh có thể đang gặp phải chứng thiếu máu.
Ngoài ra, còn có xét nghiệm nồng độ huyết sắc tố, nồng độ sắt trong máu và nồng độ ferritin.
Chọc hút tủy xương.
Nội soi để xác định xem có chảy máu không.
Xét nghiệm mẫu phân xem có lẫn máu trong phân hay không.
>> Xem thêm:
Xét nghiệm gì để biết thiếu máu
?
Điều trị thiếu máu
Việc lựa chọn phương pháp
sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Những người bị nhẹ có thể không cần điều trị. Nếu nguyên nhân là do thuốc hoặc do bệnh lý khác gây ra, bác sĩ có thể thay đổi phương pháp để kiểm soát hoặc ngăn chặn tình trạng bệnh.
Một số phương pháp phổ biến bao gồm:
Sử dụng thuốc: Người bệnh có thể được kê đơn thuốc để giúp tủy xương tạo ra nhiều tế bào hồng cầu hơn, thuốc ức chế hệ thống miễn dịch, thuốc sắt, thuốc bổ sung vitamin B12,…
Chế độ dinh dưỡng: Cải thiện chế độ dinh dưỡng luôn là lựa chọn ưu tiên với người bệnh. Cần đảm bảo chế độ ăn uống của bạn có thực phẩm giàu chất sắt, cũng như thực phẩm có chứa acid folic và vitamin B12.
Truyền máu: Truyền máu là phương pháp đưa tế bào hồng cầu khỏe mạnh vào trong các mạch máu của người bệnh thông qua đường truyền tĩnh mạch (IV). Truyền máu thay thế lượng máu bị mất do phẫu thuật hoặc chấn thương, hoặc cung cấp máu nếu cơ thể bạn không sản xuất đúng cách.
Ghép tế bào gốc: còn được gọi là ghép tế bào gốc tạo máu, mục tiêu thay thế các tế bào gốc tạo máu bị lỗi bằng các tế bào khỏe mạnh.
Phẫu thuật: Phẫu thuật có thể được chỉ định để cầm máu bên trong với các trường hợp người bệnh bị chấn thương, có tổn thương bên trong cơ thể gây chảy máu ồ ạt dẫn đến thiếu máu.
Truyền máu là một phương pháp điều trị bệnh hiệu quả.Tình trạng này ảnh hưởng đến cơ thể như thế nào?
khiến người bệnh cảm thấy mệt mỏi, không đủ sức khỏe để thực hiện các hoạt động bình thường, chóng mặt và khó tập trung. Những người bị mắc bệnh thường bị đau ngực, nhức đầu hoặc khó thở, da nhợt nhạt tái xanh.
Ngoài ra, tình trạng này cũng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý khác. Điều này là do cơ thể không đủ máu để nuôi dưỡng các cơ quan trong cơ thể cũng như làm suy giảm hệ thống miễn dịch – hệ thống phòng thủ tự nhiên của cơ thể.
Phụ nữ mang thai mắc bệnh dễ gặp các biến chứng thai kỳ như sinh non, sảy thai, trầm cảm sau sinh, trẻ sinh ra chậm phát triển,… Trẻ em có thể bị chậm tăng cân, kém phát triển, khó tiếp thu và ghi nhớ các bài học trên trường,…
Với trường hợp cấp tính, người bệnh có thể bị sốc giảm thể tích do xuất huyết đáng kể. Do thể tích máu giảm, tình trạng thiếu oxy ở mô có thể xảy ra, dẫn đến tổn thương cơ quan đích. Người bệnh có thể bị suy tim, suy thận, suy hô hấp,… hoặc các tổn thương nội tạng khác. Nếu không kịp thời điều trị, trường hợp mạn tính nghiêm trọng hoặc cấp tính đều có thể làm tăng nguy cơ tử vong.
Cách phòng tránh thiếu máu
Mặc dù không phải dạng nào cũng có thể phòng ngừa nhưng bạn vẫn có thể áp dụng một số biện pháp ngăn ngừa để hạn chế tối đa nguy cơ mắc bệnh, chẳng hạn như:
Thăm khám sức khỏe tiền hôn nhân và tầm soát, trao đổi với trước khi mang thai để ngừa việc trẻ sinh ra bị mắc bệnh.
Phụ nữ mang thai nên uống viên sắt để hạn chế việc tình trạng này xảy ra trong thai kỳ.
Xây dựng một chế độ dinh dưỡng lành mạnh, ưu tiên thực phẩm giàu sắt, vitamin nhóm B.
Ngoài ra, cần duy trì lối sống khoa học, tập thể dục đều đặn, nghỉ ngơi đầy đủ, tránh làm việc quá sức.
Chế độ ăn cho người thiếu máu
Chế độ ăn uống của người bệnh nên bao gồm các loại thực phẩm từ tất cả các nhóm thực phẩm chính để đảm bảo sức khỏe và cân bằng. Đặc biệt, thực phẩm và đồ uống có chứa Vitamin C rất quan trọng vì Vitamin C giúp cơ thể hấp thụ chất sắt.
Người bệnh nên ăn nhiều rau lá xanh đậm, ngũ cốc, bánh mì, gạo lứt, các loại đậu và hạt, thịt trắng và đỏ, cá, đậu hũ, trứng, trái cây sấy khô,… Đây là những loại thực phẩm giúp bổ sung sắt, tốt cho người bệnh.
Với người bệnh bị thiếu Vitamin B12, nên ưu tiên thực phẩm giúp bổ sung nhóm Vitamin đang thiếu này. Thực phẩm giàu Vitamin B12 bao gồm cá, trứng, các loại hạt, sản phẩm từ sữa và trái cây họ cam quýt,…
Bên cạnh đó, người bệnh cần lưu ý uống nhiều nước lọc, hạn chế trà và cà phê.
>> Xem thêm:
Bị thiếu máu cần bổ sung gì? Các loại vi chất cần cơ thể hấp thu
Người bệnh nên lựa chọn thực phẩm giàu chất sắt.Chăm sóc bệnh nhân thiếu máu
Khi chăm sóc người bệnh cần duy trì chế độ ăn uống khoa học và phù hợp. Lưu ý sử dụng thuốc đúng theo chỉ định để kiểm soát bệnh, ngăn ngừa bệnh diễn tiến nghiêm trọng.
Với người bệnh, cần cẩn thận trong sinh hoạt để hạn chế nguy cơ chảy máu (sử dụng bàn chải đánh răng có lông mềm, tránh chạm vào các vật sắc nhọn, không đi chân đất,…). Nếu có các dấu hiệu bất thường, nên sớm đến bệnh viện thay vì tự
chăm sóc bệnh nhân thiếu máu tại nhà
.
Khám thiếu máu ở đâu đáng tin cậy?
Nếu có các dấu hiệu nghi ngờ, bạn nên đến bệnh viện để được chẩn đoán chính xác. Việc thăm khám không chỉ giúp xác định bạn có bị mắc bệnh hay không mà còn đánh giá xem tình trạng của bạn do nguyên nhân gì, đang ở dạng nào, mức độ nặng hay nhẹ…, từ đó bác sĩ có thể tư vấn phương pháp điều trị cải thiện phù hợp nhất.
Đơn vị Huyết học lâm sàng,
,
TP.HCM là địa chỉ uy tín chuyên khám và điều trị hiệu quả
, từ nhẹ đến nặng. Khoa quy tụ đội ngũ bác sĩ giỏi, giàu kinh nghiệm trong thăm khám và điều trị bệnh thiếu máu nói riêng và các bệnh lý huyết học nói chung.
Câu hỏi thường gặp
1. Khi nào cần gặp bác sĩ?
Nếu có các triệu chứng sau đây, nên sớm đến gặp bác sĩ để được kiểm tra, thăm khám:
Mệt mỏi dai dẳng, khó thở, nhịp tim nhanh, da nhợt nhạt.
Chán ăn, không thể ăn.
Rong kinh.
Có các triệu chứng của loét, viêm dạ dày.
Đi tiểu, đại tiện có lẫn máu.
Có tính di truyền trong gia đình.
Phụ nữ mang thai bị mắc bệnh.
Các trường hợp người mắc bệnh dù đang kiểm soát tốt nhưng muốn có con cũng nên đến gặp bác sĩ để được tư vấn về di truyền.
2. Bệnh có thể chữa khỏi được không?
Bệnh ở mức độ nhẹ có thể chữa khỏi bằng những phương pháp phù hợp theo từng nguyên nhân bệnh. Người bệnh có thể được điều trị bằng cách thay đổi chế độ ăn uống hoặc dùng thuốc bổ sung. Tuy nhiên, một số trường hợp mạn tính không thể chữa khỏi hoàn toàn, chỉ có thể áp dụng các biện pháp để kiểm soát bệnh.
3. Bệnh nghiêm trọng đến mức nào?
Khi mắc bệnh tim phải bơm máu nhiều hơn để bù đắp cho lượng oxy trong máu quá ít. Điều này có thể dẫn đến suy tim và gây tử vong. Ngoài ra, một số bệnh di truyền, chẳng hạn như hồng cầu hình liềm, có thể dẫn đến các biến chứng đe dọa tính mạng.
4. Tình trạng này liệu có nguy hiểm không?
? Nếu không kịp thời điều trị bằng những phương pháp phù hợp, người mắc bệnh có thể bị tổn thương đa cơ quan và thậm chí dẫn đến tử vong.
Bệnh thiếu máu là một bệnh lý có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe, đe dọa tính mạng. Người bệnh không nên chần chừ trong việc thăm khám và điều trị nếu có các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh.