Tiếng 'dạ, thưa' xa vắng
Giảng viên
Tôi có cuộc trao đổi ngắn với một nhân viên trẻ đang làm việc tại một trường quốc tế ở Việt Nam. Câu nào của cô cũng ngắn, gần như bỏ trống chủ ngữ, hoàn toàn thiếu kính ngữ trong giao tiếp với người lớn tuổi hơn.
Cô có lẽ không định tỏ ý thiếu tôn trọng, mà dường như đã quen cách nói với bạn bè, bằng vai phải lứa. Tôi dù vậy, vẫn khó chịu trong lòng.
Một cô gái trẻ, năng động, làm việc trong môi trường giáo dục hiện đại, nhưng lại thiếu đi điều rất căn bản trong giao tiếp: cách thể hiện sự tôn trọng qua lời ăn tiếng nói.
Tôi không nghĩ một tiếng "dạ", "thưa" có thể quyết định năng lực hay tương lai của một con người. Tôi cũng không vội vàng đánh giá phẩm chất của một người trẻ qua vài câu chữ. Nhưng cách giao tiếp chính là sự thể hiện trình độ nhận thức về văn hóa ứng xử trong cộng đồng và cũng chính là cách thể hiện giá trị bản thân.
Người trẻ hôm nay được học tập trong môi trường quốc tế, tiếp cận công nghệ mới, ngoại ngữ tốt hơn và có nhiều cơ hội bước ra thế giới hơn thế hệ chúng tôi. Nhưng hội nhập không có nghĩa là phải bỏ lại những giá trị đẹp của văn hóa mình.
Có bạn trẻ cho rằng trong môi trường quốc tế, cách giao tiếp cần bình đẳng. Trong tiếng Anh, "I" vẫn là "I", "you" vẫn là "you", bất kể người đối diện lớn hay nhỏ tuổi, hay có vai trò và vị trí cao hơn.
Ở các nền văn hóa phương Tây, sự tôn trọng vẫn luôn được thể hiện trong cách chọn từ ngữ, ngữ điệu và trọng âm, hay lời cảm ơn, xin lỗi với thái độ đúng mực với từng hoàn cảnh giao tiếp.
Tiếng Việt đặc biệt hơn, là một ngôn ngữ của quan hệ, với hệ thống đại từ nhân xưng tự nó hình thành một bản đồ quan hệ xã hội. Ông, bà, cha, mẹ, cô, chú, bác, anh, chị, em, con, cháu... - đằng sau mỗi cách gọi là một mối quan hệ, một khoảng cách và cũng là sự biểu đạt cách chúng ta xác định mình trong tương quan với người khác.
"Dạ", "thưa", "ạ" cũng vậy.
Đó không chỉ là vài từ đệm cho câu nói nghe mềm mại hơn. Trong nhiều hoàn cảnh, chúng là biểu hiện của sự lễ phép, của ý thức tôn trọng và của một nét văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nếu để những từ này biến mất hoàn toàn, một phần tinh tế của ngôn ngữ giao tiếp tiếng Việt cũng mất theo.
Trong cuộc sống, bạn bè tôi - nhiều người có địa vị xã hội cao, nhưng khi đứng trước một người lớn tuổi họ vẫn cúi đầu chào, vẫn "dạ, thưa" rất lễ độ; thậm chí trao đổi với nhân viên, người dưới, vẫn nhẹ nhàng, lịch thiệp - "Em làm giúp anh việc này", "Em có thể cho tôi biết việc kia". Những khoảnh khắc ấy luôn khiến tôi nhớ đến câu nói quen thuộc: "Lúa chín cúi đầu". Càng hiểu biết, người ta càng không cần dùng vẻ bề trên để chứng minh giá trị của mình. Càng có quyền lực, người ta càng ít cần dùng quyền lực trong lời nói.
Điều khiến tôi suy nghĩ là một số người trẻ ngày nay dường như đang nhầm lẫn giữa bình đẳng và suồng sã, giữa hiện đại tân tiến và văn hóa phép tắc tối thiểu trong giao tiếp.
Các bạn trẻ có quyền tự tin, nói lên quan điểm, tranh luận với người lớn, phản biện thầy cô, đặt câu hỏi với những điều mình cho là chưa đúng. Xã hội tiến bộ không yêu cầu hay đòi hỏi người trẻ phải im lặng hay thuận theo răm rắp chỉ vì người đối diện nhiều tuổi hay vai trò cao hơn mình.
Nhưng phản biện không có nghĩa là thiếu lễ độ, bình đẳng không đồng nghĩa với việc xóa bỏ sự tôn trọng trong ứng xử giao tiếp. Một người trẻ hoàn toàn có thể nói: "Dạ, con không đồng ý với quan điểm này" hay "Thưa cô, em có một cách nhìn khác". Tiếng "dạ", "thưa" không làm lập luận yếu đi, ngược lại còn cho thấy một người đủ bản lĩnh để bảo vệ quan điểm của mình mà vẫn biết tôn trọng người đối diện.
Người hôm nay không nhất thiết phải nói với nhau bằng ngôn từ của người xưa, nhưng tôi sẽ thấy rất trống trải trong một cuộc chuyện trò quá thiếu vắng "dạ, thưa", kính ngữ. Những âm tiết tưởng như là phần thừa trong câu nói lại gợi nhắc một thông điệp quan trọng: sự văn minh, hiện đại không nằm ở việc ta nói gì với người khác, mà còn ở cách ta lựa chọn để nói điều đó.
Nguyễn Thị Thanh Bình